Đạo vợ, nghĩa chồng son sắt một đời

Đạo vợ nghĩa chồng

Người xưa có câu: “Đạo vợ, nghĩa chồng”. Vợ cư xử với chồng là đạo, mà chồng sống với vợ là nghĩa. Cái đạo nghĩa đó như một sợi dây vô hình nhưng ràng buộc cả hai người trọn đời, trọn kiếp…

 

Vợ chồng già
Tình cảm vợ chồng già son sắt.

 

1. Đạo vợ nghĩa chồng: Lời hứa đáng giá ngàn vàng

Mỹ đức của người xưa: Thủ tín, “Nhất ngôn vi định”

Trong văn hoá truyền thống thì thủ tín là một mỹ đức căn bản. Là phẩm hạnh của các bậc chính nhân quân tử. Tín – đó là thái độ trách nhiệm của một người đối với bản thân cũng như đối với người khác. Người có thể thủ tín thì mới có thể thành thật với chính mình. Một lời nói ra thì như đinh đóng cột không gì có thể thay đổi. Lời nói và việc làm phải đồng nhất với nhau. Vậy nên người xưa có câu nói rằng: “Nhất ngôn cửu định, tứ mã nan truy”, lời nói ra thì nặng tựa núi Thái Sơn, bốn ngựa cũng khó mà theo kịp. Đối với cổ nhân thì việc thủ tín còn quan trọng hơn cả sinh mệnh của mình. Một lời đã nói ra thì dù bằng mọi giá phải thực hiện, vậy nên có câu thành ngữ: “Lời hứa đáng giá ngàn vàng”.

Câu thành ngữ này theo sử ký Quý Bố ghi chép: “Được trăm lượng hoàng kim cũng không bằng một lời hứa của Quý Bố”. Một lời nói ra thì dù cho thế nào cũng phải thủ tín, ngàn vàng cũng không dễ gì thay đổi. “Nhất ngôn vi định”, một lời nói ra thì coi như mọi việc đã được định xong, cần thủ tín không được trái lời.

Cũng chính vì vậy mà người xưa khi làm ăn buôn bán, bất luận lớn nhỏ ra sao, lời lãi nhiều hay ít, chỉ cần hai bên đã thống nhất với nhau thì một câu nói là đủ.

Không giống như xã hội chúng ta ngày nay, khi con người không còn chú trọng tới đạo đức và nhân phẩm của mình cho nên tất cả mọi việc trong làm ăn đều cần phải có hợp đồng khế ước, tìm luật sư làm chứng, không những vậy lại còn phải đến cơ quan thẩm quyền công chứng xác nhận…, vô cùng phức tạp. Mọi người luôn phải trăm phương nghìn kế nghĩ cách đề phòng. Ai cũng e sợ đối phương tìm cách lách luật làm tổn thất cho mình.

Cổ nhân lấy đạo đức, phẩm hạnh của mình làm tâm pháp chế ước bản thân không làm điều xấu. Cho nên làm người đối đãi với mọi việc đều “nhất ngôn nhất hành”, lời nói và việc làm phải đồng nhất với nhau. Cổ nhân đối với mỗi một lời nói, mỗi một việc làm của mình đều dùng tiêu chuẩn đạo đức cao để đo lường, làm tiêu chuẩn mẫu mực cho hậu thế noi theo, sợ rằng những lời nói việc làm của mình xa rời đạo đức sẽ ảnh hưởng tới con cháu sau này.

Người xưa khi làm ăn buôn bán, bất luận lớn nhỏ ra sao, lời lãi nhiều hay ít, chỉ cần hai bên đã thống nhất với nhau thì một câu nói là đủ.

 

Đám cưới hạnh phúc
Đạo vợ nghĩa chồng một lời hứa là đủ.

 

Đạo nghĩa vợ chồng: Một lời hứa hôn nhớ kỹ không quên

Có một câu truyện truyền kỳ cảm động lưu truyền hậu thế ngàn năm về việc thủ tín của người xưa, là nét đẹp văn hoá truyền thống ngàn đời qua:

Trình Doãn Nguyên, tự là Hiếu Tư là danh gia vọng tộc vùng Hoài Nam. Phụ thân của ông là Trình Huân Trứ là một thương nhân buôn bán ở Hoài Nam. Nhưng thời Càn Long triều đại nhà Thanh việc làm ăn suy giảm nên bỏ nghề buôn bán, theo đuổi con đường kinh sử.

Đương thời ở Huyện Bình Cốc, Bắc Bình có một người tên gọi Lưu Đăng Dong cũng trên đường đến kinh thi cử tìm đường công danh. Tình cờ gặp được Trình Huân Trứ ở cùng quán trọ. Hai người tuy lạ mà quen, gặp nhau nói chuyện tâm đầu ý hợp, cảm thấy rất thân thiết với nhau. Sau đó cả hai nhất trí quyết định hứa hôn hai nhà kết nghĩa thông gia. Lúc này cả hai vẫn còn độc thân chưa thành gia lập thất.

Sau này Lưu Đăng Dong nhậm chức Thái Phủ ở Bồ Châu, Hà Đông. Đến năm 60 tuổi vẫn chưa sinh được con trai. Trong nhà chỉ có vợ già và cô con gái nhỏ cùng một số nô tỳ hầu hạ. Không lâu sau vợ của Lưu Đăng Dong qua đời, ông cũng vì thế mà đau buồn sinh bệnh.

Trước lúc lâm chung ông nói với con gái: “Trình Doãn Nguyên ở Hoài Nam là vị hôn phu của con, chuyện này là do cha mẹ hai nhà đã định hôn ước từ lâu, con cần nhớ kỹ không được quên”. Sau khi an táng cho cha  xong, Lưu thị cũng trở về quê nhà.

Còn về phần Trình Huân Trứ, sau khi Lưu Đăng Dong nhậm chức không lâu thì mắc bệnh qua đời mấy năm sau đó. Trình Doãn Nguyên sau khi mãn hạn tang cha định đi đến Sơn Tây thì nghe được tin nhạc phụ bệnh nặng liền đi đến thẳng huyện Bình Cốc hỏi thăm. Nhưng đến nơi thì được biết Lưu thị sau khi an táng cha xong không biết đã bỏ đi nơi nào, để lại nhà cửa trống vắng không người ở.

Trình Doãn Nguyên thấy thân mình như vào cảnh khốn cùng, nghìn dặm xa xôi đến đây lại không dò la được chút tin tức gì. Tiền bạc mang theo trên người lại không còn nhiều, chẳng biết phải làm sao? May thay gặp được người tốt giúp đỡ, lại vất vả trở về Hoài Nam.

Lại nói về Lưu Đăng Dong vì làm quan thanh bạch nên sau khi chết, chi phí mai táng xong thì của cải cũng chẳng còn đáng là bao. Lưu thị chỉ còn cách dệt vải thuê cho người ta kiếm sống nuôi thân. Người dân lân cận sống lâu ngày với Lưu thị thấy nàng là người hiền lành nhân hậu, vì vậy đã có nhiều mối muốn ngỏ lời xin cưới. Nhưng lần nào cũng vậy, Lưu thị đều lấy lý do mình là người đã có hôn phu đính ước để từ chối, tuy vậy mọi người đều không tin.

Chưa từng gặp mặt vẫn thủ tiết đợi chờ

Lưu thị có một người dì xuất gia làm ni ở Tiếp Dẫn Am, Tân Môn. Lưu Thị vì muốn tránh những tai tiếng phiền phức nên đành lặng lẽ vào nơi cửa Phật nương nhờ dì mình. Cũng vì vậy mà ni cô già nhiều lần khuyên Lưu thị xuất gia làm ni, nhưng nàng đều từ chối:

– “Thân thể này do cha mẹ ban cho đâu thể nào tự ý huỷ đi (Phụ nữ ngày xưa đối với việc cắt tóc là vô cùng quan trọng, không được sự cho phép của cha mẹ thì không được tuỳ ý động vào). Hơn nữa trước lúc phụ thân lâm chung đã căn dặn kỹ là tiểu nữ đã có hôn ước hai nhà từ trước, nay tiểu nữ đâu thể làm trái lời phụ thân căn dặn. Nay tiểu nữ bất đắc dĩ mới phải nương tựa nơi đây để tránh những điều tai tiếng gièm pha của người trong thiên hạ, đối với việc cắt tóc xuất gia tiểu nữ chưa thể làm”.

Vậy là từ đó về sau, Lưu thị giấu mình trong mật thất không gặp bất cứ một ai. Hàng ngày sớm tối nhang đèn cầu nguyện mong có một ngày có thể gặp vị hôn phu đính ước của mình một lần, cho dù có chết cũng hả dạ cam lòng.

Còn về phần mình, Trình Doãn Nguyên sau khi trở về nhà, cuộc sống ngày một khó khăn. Cũng có nhiều người khuyên chàng tìm người khác phối ngẫu tơ hồng để cùng nhau phấn đấu làm ăn. Nhưng Doãn Nguyên đều đáp:

– “Lưu thị hiện nay sống chết thế nào đều bặt vô âm tín, nếu như xấu số bỏ mạng thì coi như việc này đã rồi, nhưng nếu như Lưu thị còn sống và vẫn thủ tiết chờ tại hạ, tại hạ lại trong hoàn cảnh chưa rõ thực hư ra sao mà vong ân phụ nghĩa bỏ mặc Lưu thị, đây là việc tuyệt đối không thể làm”.

Thời gian cứ thế qua đi, Trình Doãn Nguyên sống gần 30 năm đơn lẻ một mình trong chờ đợi. Mãi cho tới năm gần 50 tuổi ông vẫn thường theo thuyền chở hàng qua lại hai vùng nam bắc để tìm kiếm tin tức Lưu thị.

Vào tháng 4 năm Đinh Dậu thời vua Càn Long, trong một lần thuyền cập bến ở Tân Môn, Trình Doãn Nguyên xuống thuyền vào quán trà uống nước. Vừa hay nghe được mọi người bàn tán nhau chuyện của Lưu thị, ông chăm chú lắng nghe mới biết được tin tức của nàng. Trình Doãn Nguyên lập tức tìm đến Tiếp Dẫn Am Lão ni cô sau khi nghe ông kể lại đầu đuôi câu truyện rồi đem nói với Lưu thị nghe. Lưu thị tỏ ý đa tạ tấm chân tình của Trình Doãn Nguyên và trách thân mình duyên phận không đầy, nay bản thân tuổi đã xế chiều, tóc đã bạc răng đã long, nếu gả cho Trình Doãn Nguyên sẽ làm cho thiên hạ chê cười. Vậy nên bà nhất quyết từ chối. Trình Doãn Nguyên kiên trì 3 lần xin được gặp Lưu thị nhưng cho dù khuyên nhủ thế nào bà vẫn không chịu gặp.

Hai người nguyện một tấm lòng son sắt

Trình Doãn Nguyên than ngắn thở dài đem mối u sầu đi vào trong huyện, gặp được huyện lệnh đương thời họ Kim. Kim huyện lệnh xưa nay vốn là người hết mực vì dân, không quản khó nhọc thương dân như con. Sau khi biết rõ sự tình, lập tức đến Tiếp Dẫn Am khuyên nhủ Lưu thị, cuối cùng sang ngày thứ hai thì thuyết phục được Lưu thị đồng ý. Kim huyện lệnh thấy rằng giúp người thì giúp tới cùng nên bèn đứng ra làm việc đại nghĩa cử hành hôn lễ cho hai người.

Một người thì thanh tâm tiết ngọc, trước sau thủ tiết vuông tròn, một người thì một lòng giữ tròn đạo nghĩa. Dù số phận trớ trêu nhưng hai người đều không than không oán. Vì vậy Lưu thị và Trình Doãn Nguyên tuy gặp nhau khi hai người đã 57 tuổi nhưng bề ngoài vẫn chỉ như người 40 tuổi. Cả hai tuy tóc có chút bạc nhưng răng chắc má hồng da dẻ mịn màng, nếu không nói ra thì khó có ai nhận biết được họ tuổi đã xế chiều.

Xưa nay những người có thể giữ trọn nghĩa trinh không ít, nhưng làm được như hai người Trình Doãn Nguyên và Lưu thị thì quả là xưa nay khó thấy. Dù xa xôi nghìn dặm cách trở, dù cho chưa một lần gặp mặt, lại trong hoàn cảnh bặt vô âm tín, vẫn một lòng giữ trọn tiết trinh, thủ nghĩa đợi chờ hơn 30 năm không hề thay đổi.

Gái có công chồng chẳng phụ, ông trời cũng không rủ lòng người tốt. Cuối cùng cũng cho hai người gặp nhau, lại được gặp Kim huyện lệnh mẫu mực thương dân như con, sau khi tác hợp cho hai người nên duyên chồng vợ, hơn nữa còn khen ngợi tấm lòng son sắt của hai người. Kim huyện lệnh lại sợ hai người về quê không có tiền bạc chẳng biết sẽ sống ra sao, nên đã không những đem chút đồng lương ít ỏi của mình quyên tặng, còn hô hào những thương nhân vẫn thường qua lại trong huyện ra tay giúp đỡ hai người về quê tạo dựng cơ nghiệp buôn bán làm ăn.

 

hình ảnh vợ chồng già hạnh phúc
Đạo vợ nghĩa chồng thủy chung đến đầu bạc răng long.

2. Tể tướng Yến Anh một lòng một dạ

Yến Anh là nhà tư tưởng, nhà ngoại giao nổi tiếng của nước Tề, được vua Tề Cảnh Công rất coi trọng.

Một lần, Vua Tề Cảnh Công đến nhà Yến Anh làm khách. Lúc hai người đang uống rượu, Cảnh Công nhìn thấy vợ của Yến Anh đi qua, liền hỏi:

“Đó là thê tử của khanh à?”.

Yến Anh trả lời:

– “Đúng vậy”.

Cảnh Công cười và nói:

“Cô ta vừa già lại vừa xấu. Ta có một đứa con gái, tuổi còn trẻ lại xinh đẹp. Ta nghĩ chi bằng gả cho khanh.”

Yến Anh nghe xong, lập tức đứng dậy, cung kính trả lời:

“Hiện giờ, vợ của thần vừa già vừa xấu, nhưng xưa kia khi nàng còn trẻ đẹp đã cùng thần chung sống lâu dài. Hơn nữa, làm vợ vốn dĩ là trao thân gửi phận cả đời, từ lúc trẻ trung xinh đẹp cho đến lúc già nua xấu xí. Vợ thần khi còn trẻ đã phó thác cuộc đời cho thần, thần đã tiếp nhận lòng tin cậy ấy. Quân Vương tuy rằng hiện giờ muốn ban thưởng, nhưng làm sao thần có thể phụ bạc lòng tin của thê tử được?”

Yến Anh bái mấy bái xin tạ ơn và từ chối Tề Cảnh Công. Tề Cảnh Công thấy Yến Anh dứt khoát, coi trọng tình nghĩa vợ chồng như vậy nên từ đó trở đi cũng không nhắc lại thêm lần nào nữa.

Có một lần, Điền Vô Vũ, vị tông chủ thứ năm của họ Điền gặp Yến Anh ở nhà một mình và gặp một người phụ nữ trong nhà bước ra. Người này quần áo giản tiện, mái tóc đã bạc. Điền Vô Vũ chế giễu Yến Anh, nói:

– “Người đàn bà đó là ai vậy?”

Yến Anh trả lời:

– “Là thê tử của ta”.

Điền Vô Vũ nói:

– “Ngài là quan lớn trong triều, thực ấp điền thuế thu vào bảy mươi vạn. Tại sao lại nhận bà lão này làm vợ?”.

Yến Anh trả lời:

“Ta nghe nói, bỏ rơi một người vợ già là loạn đạo, thú vui lấy thêm thê thiếp trẻ tuổi là dâm đãng. Thấy sắc đẹp mà bội nghĩa, thấy phú quý vứt bỏ luân thường thì đó là nghịch đạo. Yến Anh ta làm sao có thể có hành vi dâm loạn, coi thường luân lý, đi ngược lại với lời dạy của cổ nhân như thế được?”

 

hình ảnh vợ chồng đẹp đôi
Đạo vợ nghĩa chồng một lòng một dạ đáng trân trọng xiết bao.

3. Truyện Đạo nghĩa Vợ chồng “hoạn nạn có nhau”

Tiêu Ý Tân là người nước Liêu, là con gái của phò mã Đào Tô Oát và công chúa Hô Đồ. Tiêu Ý Tân vừa xinh đẹp lại vừa có tri thức, am hiểu lễ nghĩa. Năm Tiêu Ý Tân tròn 20 tuổi thì được gia đình gả cho Gia Luật Nô, một quan chức của triều đại nhà Liêu.

Một lần, Tiêu Ý Tân trò chuyện cùng các chị em dâu trong nhà. Họ tranh luận về cách dùng ma thuật để mê hoặc với mong muốn chiếm được tình yêu và sự sủng ái của chồng.

Tiêu Ý Tân nghe thấy họ nói như vậy, liền lên tiếng:

“Dùng ma thuật không bằng dùng lễ pháp”. Mọi người ngạc nhiên hỏi cô vì sao vậy?

Tiêu Ý Tân nói:

“Tăng cường tu dưỡng bản thân để lời nói và hành vi được đoan trang, cẩn trọng, phù hợp quy phạm. Đồng thời phải cung kính, hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ, dùng ôn nhu, hòa thuận để đối đãi với chồng, dùng khoan hồng độ lượng để đối đãi với người bên dưới thì được gọi là lễ pháp. Nếu có thể làm được như thế thì tự khắc sẽ được người chồng yêu thương và tôn kính. Còn nếu dùng ma thuật để được sủng ái thì lẽ nào không thấy hổ thẹn trong tâm sao?” Mọi người nghe xong lời ấy thì trong lòng vô cùng hổ thẹn.

Về sau, chồng của Tiêu Ý Tân bị người khác vu khống hãm hại mà bị lưu đày nơi đất khách. Bởi vì Tiêu Ý Tân là con gái của công chúa, nên Hoàng thượng muốn cô lập tức ly hôn với chồng.

 

Vợ chồng già ngồi bên nhau
Đạo vợ nghĩa chồng hoạn nạn có nhau

 

Tiêu Ý Tân biết vậy liền thưa với Hoàng thượng:

– “Bệ hạ, con biết người là vì tình thân giữa chúng ta mà nghĩ cho con, muốn con không phải chịu khổ. Đây quả thực là ân tình to lớn. Nhưng là vợ chồng thì phải coi trọng đạo nghĩa, phải sống chết có nhau, là có họa cùng chịu. Con từ khi còn rất trẻ đã được gả cho Gia Luật Nô, nay chồng con vừa gặp phải nguy nan, nếu con lập tức rời bỏ chồng mình thì chính là làm trái với luân thường đạo lý. Điều này có khác chi với loài cầm thú đâu! Xin Bệ hạ thương xót chúng con, cho phép con được đồng cam cộng khổ cùng Gia Luật Nô, cho dù con có bị chết cũng nhất định không oán hận gì.”

Hoàng thượng nghe xong những lời chân tình đó, trong lòng vô cùng cảm động mà đồng ý với thỉnh cầu của Tiêu Ý Tân.

Khi đến nơi Gia Luật Nô lưu đày, Tiêu Ý Tân phải lao động cực khổ cả ngày, nhưng trong lòng cô không hề có một chút oán hận. Mà trái lại, cô càng đối đãi với chồng lễ phép và cung kính hơn xưa.

Vợ chồng với nhau, vốn không phải lúc nào cũng êm đềm hạnh phúc. Tuy nhiên, “sông có khúc, người có lúc”, dù có xảy ra bất cứ chuyện gì cũng phải nên nhẫn nhịn, cư xử với nhau một cách đúng mực.

Bởi vì phải sống với nhau cả đời, vợ có trách nhiệm của vợ, chồng có cá tính của chồng nên phải bao dung thì mới có tương dung. Dù vui buồn, sướng khổ, lúc nguy nan, khi túng thiếu thì cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, mới là phải đạo, mới có được một gia đình hòa thuận. Ấy là đạo vợ nghĩa chồng hoạn nạn có nhau.

Bài liên quan

Phản hồi

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tử vi ứng dụng