Những mẫu chuyện hay về lời dạy của Đức Phật

Những mẫu chuyện hay về Đức Phật

Tình yêu thương giữa người với người chính là cốt lõi của cuộc sống. Tình người trong lời dạy của Đức Phật vốn bao la quảng đại, không phân biệt giàu sang nghèo hèn, khỏe mạnh hay đau yếu.

 

Đức Phật thăm Tỳ kheo lâm bệnh

Đức Thế Tôn Chánh đẳng Chánh giác sau khi thành đạo, vì muốn độ người nên an trú tại thành Xá Vệ. Chư Thiên, nhân loại cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán, danh tiếng vang khắp mười phương, mọi loài đều xem Ngài như bậc tối thắng trong các bậc xứng đáng được cúng dường.

Chúng sinh nào cầu phước đức, Ngài ban cho phước đức. Chúng sinh nào cầu trí tuệ, Ngài ban cho trí tuệ. Chúng sinh nào khổ não, Ngài làm cho an lạc. Ngài vì chư Thiên, nhân loại mà mở cửa cam lồ. Thế nên, mười sáu nước lớn tại cõi Thiên Trúc lúc bấy giờ không nước nào là không ngưỡng mộ phục tùng. Những ai tự thân chứng kiến được cách an trú của Phật thì đều hiểu rằng: đó là cách an trú của Chư Thiên, của Phạm Thiên, của Hiền Thánh, là cách an trú cao quý nhất với trí tuệ tuyệt vời, được hòan toàn tự tại, vô ngại.

Những câu chuyện về lời dạy của Đức Phật
Những câu chuyện về lời dạy của Đức Phật

Lời dạy của Đức Phật với A Nan

Thế rồi một hôm, Phật bảo A Nan:

– “Ông hãy khóa cửa phòng lại rồi đi với ta, Như Lai muốn đi thăm viếng chỗ ở của chư Tăng”.

A Nan đáp:

– “Lành thay, bạch Thế Tôn!”

Rồi thầy khóa cửa phòng lại đi theo sau Phật. Thế Tôn đi đến một căn phòng rách nát, thấy có một Tỳ kheo đang lâm bệnh, nằm dài, không thể đứng dậy nổi. Phật liền nói:

– “Này Tỳ kheo, bệnh tình của ông như thế nào? Cơn đau tăng hay giảm?”

Tỳ kheo:  “Bạch Thế Tôn! Cơn đau chỉ có tăng chứ không giảm”.

– “Hôm nay có ăn được không?”

Tỳ kheo: “Dạ thưa không được, bạch Thế Tôn”.

– “Hôm qua ăn có được không?”

Tỳ kheo: “Dạ thưa không được, bạch Thế Tôn”.

– “Hôm kia ăn có được không?”

Tỳ kheo:Cũng không được, bạch Thế Tôn! Con không ăn được suốt bảy ngày”.

– “Có thức ăn mà không ăn được hay không có thức ăn nên không ăn?”

Tỳ kheo: “Không có thức ăn, thưa bạch Thế Tôn”.

– “Ở đây có Hòa thượng của ông không?”

Tỳ kheo:  “Không có, bạch Thế Tôn”.

– “Có các Hòa thượng khác không?”

Tỳ kheo:  “Không có, bạch Thế Tôn”.

– “Có thầy Giáo thọ của ông không?”

Tỳ kheo:  “Không có, bạch Thế Tôn”.

– “Có các thầy Giáo thọ khác không?”

Tỳ kheohiểu lời dạy của Đức Phật liền thưa: “Cũng không có, bạch Thế Tôn”.

“Phòng bên cạnh không có Tỳ kheo nào sao?”

Lúc này, A Nan bạch với Phật:

Tỳ kheo: “Bạch Thế Tôn, vì con bị bệnh hôi thối, nên họ đã dời đi nơi khác, do  đó, con cô độc và đau khổ lắm, bạch Thế Tôn. Con cô đơn lắm. Bạch Thiện Thệ!”

– “Ông đừng sầu não nữa, ta sẽ giúp đỡ ông. Này Tỳ kheo. Hãy lấy y phục đưa đây, ta sẽ giặt cho”.

Tỳ kheo: “Bạch Thế Tôn, y phục của Tỳ kheo bị bệnh để đó con giặt cho”.

– “Vậy ông giặt y đi, để ta xối nước cho”.

Thế rồi, A Nan đem y phục của bệnh nhân ra giặt, còn Thế Tôn thì xối nước. Khi giặt xong, thầy đem đi phơi nắng. Rồi thầy bồng Tỳ kheo bệnh đặt nằm trên một tấm vải ở chỗ đất trống, lau chùi sạch sẽ, lại đem giường gối và các vật bất tịnh ra ngoài phòng, rưới nước trong phòng, quét dọn gọn gàng, dùng khăn lau sàn nhà, giặt giũ giường nệm, vá lại ghế dây, rồi đem mọi thứ đặt về chỗ cũ. Tiếp đến, thầy tắm rửa cho Tỳ kheo bệnh rồi bồng đặt nằm lại trên giường. 

Khi ấy, Thế Tôn dùng bàn tay mềm mại, sắc vàng óng ánh được kết tinh bằng vô lượng công đức xoa trên trán Tỳ kheo, và hỏi:

– “Cơn đau của ông tăng hay giảm?”

Hiểu lời dạy của Đức Phật Tỳ kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, nhờ ơn Thế Tôn dùng bàn tay đặt trên trán con, nên mọi thống khổ đều đã tiêu tan hết rồi”.

Bấy giờ, Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp khiến thầy sinh tâm hoan hỷ. Rồi Thế Tôn tiếp tục thuyết pháp làm cho thầy đạt được pháp nhãn thanh tịnh.

Sau khi Tỳ kheo khỏi bệnh, Thế Tôn bèn đi đến chỗ đông đủ các Tỳ kheo, đem sự việc trên trình bày lại đầy đủ với các Tỳ kheo. Đoạn, Ngài hỏi thầy Tỳ kheo ở phòng bên cạnh là ai, thì vị ấy đáp:

– “Chính là con đây, bạch Thế Tôn”.

Lời dạy của Đức Phật

Do vì thái độ thờ ơ của thầy đối với người bệnh, nhân cơ hội này, Phật muốn nhắc nhở các Tỳ kheo cần phải quan tâm giúp đỡ lẫn nhau nên ngài nói với Tỳ kheo:

Này các Tỳ kheo, những người đồng hạnh với các ông bị đau ốm, các ông không săn sóc cho nhau thì ai săn sóc? Các ông mỗi người đều khác họ, khác nhà, vì niềm tin mà bỏ nhà xuất gia, sống không nhà, đều cùng một họ Sa môn Thích tử, đồng tu phạm hạnh, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc? Này các Tỳ kheo, ví như các con sông Hằng, sông Diêu Phù Na, sông Tát La, sông Mê Hê chảy vào biển cả, liền mất tên cũ mà hòa chung thành một hợp thể, gọi là đại dương. Các ông cũng như vậy, ai nấy đều bỏ họ cũ mà cùng chung một họ mới là Sa môn Thích tử. Các ông không săn sóc cho nhau thì ai sẽ săn sóc?

 Ví như các chủng tộc Sát lợi, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà la, mỗi người đều khác họ, rồi cùng vượt đại dương đi kinh doanh trên thương trường thì được gọi là người đi buôn trên biển. Cũng như thế đó, các Tỳ kheo, các ông mỗi người đều khác họ, khác nhà, vì niềm tin, bỏ nhà xuất gia, sống không nhà, đều cùng một họ là Sa môn Thích tử, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc? 

Phật lại nói:

“Từ nay về sau, nếu Tỳ kheo bệnh thì Hòa thượng bổn sư phải săn sóc. Nếu không có Hòa thượng bổn sư thì các Hòa thượng khác phải săn sóc. Nếu ai không săn sóc thì phạm tội Việt tì ni. Nếu có thầy Giáo thọ thì thầy Giáo thọ phải săn sóc. Nếu ai không săn sóc thì phạm tội Việt tì ni. Nếu có người cùng phòng thì người cùng phòng phải săn sóc. Nếu không có người cùng phòng thì người ở phòng bên cạnh phải săn sóc. Nếu ai không săn sóc thì phạm tội Việt tì ni. Nếu như người ở phòng bên cạnh cũng không có thì Tăng phải sai người chăm sóc. Tùy theo người bệnh cần bao nhiêu người thì phải sai bấy nhiêu người lo việc nuôi bệnh. Nếu như không săn sóc thì tất cả chúng Tăng đều phạm tội Việt tì ni”.

Này các Tỳ kheo, các ông hãy trở về săn sóc Tỳ kheo ở phòng mình cũng như phòng bên cạnh, nếu như người ấy lâm bệnh”.

Câu chuyện về lời dạy của Đức Phật: A La Hán ăn mày

Lúc Đức Phật thuyết pháp tại Kỳ Viên tịnh xá, đến bữa ăn là phải ôm bát ra ngoài hành hóa. Lúc Ngài khất thực, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, Ngài xem tất cả đều bình đẳng khiến cho nhà nào cũng có được cơ hội gieo trồng hạt giống phúc đức.

Mỗi khi Đức Phật dẫn đầu đoàn đệ tử đến thành Xá Vệ khất thực, thì sau lưng Ngài có rất nhiều người ăn mày đi theo. Nhờ uy đức của Đức Phật, hiểu lời dạy của Đức Phật họ cũng được mọi người phát tâm từ bi bố thí.

Những câu chuyện về lời dạy của Đức Phật
Những câu chuyện về lời dạy của Đức Phật

Thời gian chầm chậm trôi qua

Những người hành khất trong thành Xá Vệ nhờ thế mà kéo dài được mạng sống của họ. Có một hôm, người đầu sỏ trong đám ăn mày ấy nói với đồng bạn rằng :

Chúng ta thuộc về hạng chúng sinh bị tội khổ, tuy nương dựa vào ánh sáng từ bi của Đức Phật để được mọi người bố thí mà kéo dài mạng sống, nhưng cứ tiếp tục như thế này mãi chẳng bao giờ đi tới đâu. Tôi thiết nghĩ rằng, hay là tất cả mọi người chúng ta kéo nhau đến chỗ của Người xin xuất gia, y Pháp mà tu hành, tương lai không phải là được giải thoát cả hay sao? Các bạn nghĩ như thế nào?”

Tất cả mọi người trong đám ăn mày đều tán thành ý kiến này. Thế là họ kéo nhau đến Kỳ Viên tịnh xá. cầu xin Đức Phật cho họ xuất gia để tiêu trừ tội khổ.

Đức Phật nói:

– “Pháp của ta bình đẳng. Bất kể kẻ trí hay người ngu. Người sang hay kẻ hèn. Ai cũng có thể được truyền trao giáo pháp, được pháp quang chiếu rọi. Pháp của ta là pháp thanh tịnh. Người tốt hay xấu ai cũng có thể bỏ sự ô uế để được trong sạch. Hồi phục lại chân tính căn bản. Hôm nay các ông xin xuất gia. Đó là do thiện duyên của các ông. Các ông chỉ cần tuân theo giáo pháp của ta thì ta cho phép các ông gia nhập tăng đoàn, thành những vị tỳ kheo”.

Các vị hành khất nghe lời dạy của  Đức Phật hết sức vui mừng. Cạo hết râu tóc và khoác pháp y vào. Từ đó họ nỗ lực ra công, diệt trừ tham sân si trong tâm. Hiểu rõ căn nguyên của sinh tử. Nên có nhiều vị đã chứng được quả A La Hán.

Lúc Đức Phật cho phép đoàn người hành khất xuất gia. Trong dân chúng có rất nhiều người nghi ngờ. Họ vẫn còn ôm giữ tà kiến nên dùng lời oán than phản đối. Cho rằng tăng đoàn vốn tôn quý thanh tịnh. Không nên để cho những người ăn mày ấy được phép gia nhập. Quan niệm giai cấp trong đầu những người này hãy còn rất nặng nề.

Có một hôm, thái tử Kỳ Đà làm một cỗ chay cúng dường Đức Phật và chư tăng, nhưng ông dặn rõ ràng rằng:

– “Thế Tôn! Ngày mai con rất hoan hỉ mà cung thỉnh đức Phật và chư tăng đến nhà con thọ cúng, nhưng không có chỗ cho mấy ông tỳ kheo hành khất nọ, xin Thế Tôn đừng mang họ theo”.

Ngày hôm sau.

Lúc lên đường đến nhà thái tử Kỳ Đà thọ cúng. Đức Phật nói với các vị tỳ kheo đã có thời làm hành khất nọ:

– “Hôm nay ta nhận lời thỉnh của thái tử Kỳ Đà đến nhà ông ấy dùng cơm. Các ông hãy đi về phía bắc, đến nước Uất Đan Việt, hái thức ăn như lúa canh… tới nhà thái tử Kỳ Đà rồi tùy ý tìm chỗ mà ngồi ăn”.

Các vị tỳ kheo hành khất hiểu ý lời dạy của Đức Phật, tuân lệnh lên đường. Họ dùng thần thông nên đến nước Uất ĐanViệt trong nháy mắt, hái đầy bình bát lúa canh đã chín mang về. Về tới chỗ, họ làm thành một nhóm 500 người, xếp hàng thành chữ “nhất”, từ không trung bay xuống, uy nghi, chỉnh tề, trang nghiêm, khiến ai nhìn thấy cũng phải tỏ lòng tôn kính tán thán. Khi họ đến cung điện của thái tử Kỳ Đà, năm trăm người theo thứ tự an nhiên ngồi xuống, mỗi người mở bát lấy lúa canh mang theo mà dùng.

Thái tử Kỳ Đà nhìn thấy các vị tỳ kheo này rất lấy làm lạ, bèn hỏi Đức Phật:

– “Bạch Thế Tôn, các vị đại A La Hán mới từ không trung bay xuống. Thái độ uy nghi khiến ai nhìn thấy cũng phải tôn kính ấy, chẳng hay từ đâu mà đến? Thỉnh Phật từ bi nói nhân duyên của họ cho con được biết”.

Đức Phật nhìn đại chúng, nhìn sang thái tử Kỳ Đà. Sau đó Ngài mới nói một cách ôn hòa:

– “Thái tử Kỳ Đà, ông hãy nghe ta nói: các vị Tỳ kheo ấy chính là những vị Tỳ kheo hành khất mà hôm qua ông nhất định không muốn cúng dường. Vì ông không mời họ nên hôm nay họ phải đến nước Uất Đan Việt hái lúa canh đã chín mang về đây dùng”.

Thái tử Kỳ Đà nghe thế lấy làm vô cùng xấu hổ, biết mình đã có lỗi khinh mạn và tà kiến, buồn rầu hối hận mà tự trách rằng:

– “Con thật là ngu ngốc. Không biết đâu là thánh đâu là phàm. Có mắt đứng trước núi Thái Sơn mà không thấy, thật là đáng tội”.

Nói xong vội vàng bày bàn cỗ thức ăn. Thỉnh năm trăm vị La Hán vào bàn rồi hỏi Đức Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, năm trăm vị La Hán được Phật giáo hóa không lâu đã chứng đắc quả vị, lìa khổ được vui. Đã được một phúc báo to lớn như thế. Thì tại sao lúc ra đời lại sinh ra trong nhà hạ tiện? Thỉnh Thế Tôn từ bi khai thị cho con”.

Đức Phật nắm lấy cơ hội này mà giảng giải cho đại chúng nghe:

– “Ngày xưa thật là xưa, có một thế giới to lớn gấp bội lần thế giới hiện tại của chúng ta. Trong thế giới ấy có một quả núi cao, trên ấy có nhiều vị tu hành và tiên nhân tu đạo cư ngụ. Vì thế người ta bèn đặt tên cho quả núi ấy là Tiên Sơn”.

Những câu chuyện về lời dạy của Đức Phật
Những câu chuyện về lời dạy của Đức Phật

Trong núi, lúc ấy có hơn hai nghìn vị tu đạo sinh sống, vị nào cũng đã chứng quả thánh.

Có một năm, trời không mưa trong một thời gian rất lâu nên nạn hạn hán lan tràn. Không có cách nào canh nông trồng trọt trên núi. Vì thế đời sống trở nên vô cùng khó khăn. Vừa may có một nhà buôn cự phú tên là Tán Đàn Ninh. Làm cỗ cúng dường hơn hai nghìn vị thánh nói trên. Vị trưởng giả rất thành tâm. Không hề có ý niệm lẫn tiếc nào. Còn bảo mấy trăm gia nhân trong nhà phải mỗi ngày phục dịch hầu hạ các vị thánh nhân ấy. Ban đầu thì những gia nhân này làm việc hăng hái chăm chỉ. Nhưng về sau họ đâm ra chán nản, thốt những lời trách oán. Thái độ càng ngày càng lơ là, lười biếng. Nhưng trưởng giả Tán Đàn Ninh không hề hay biết gì về sự việc này.

Một hôm trời đổ mưa, nhà nông vui mừng như bắt được vàng. Hai nghìn vị thánh nhân lên núi trở lại lo việc làm ruộng. Trưởng giả cũng bảo gia nhân bắt đầu gieo hạt. Mọi người lấy nông cụ ra. Từ sáng đến tối ngoài đồng làm việc, lúa mạch, lúa mì, đậu, ngũ cốc…không đâu là không có.

Những gì họ khổ công gieo trồng mọc lên rất nhanh, chín vàng, ra quả to như quả dưa. Trưởng giả rất vui mừng. Bảo họ phải cố gắng thêm, tưới tẩm thêm, bón phân thêm. Đến lúc gặt hái thì thu hoạch càng thêm phong phú, kho vựa đầy ăm ắp. Chỗ còn dư thì đem chia cho mọi người. Bố thí cho dân chúng trong nước.

Lời dạy của Đức Phật với Kỳ Đà

Lúc ấy, những người đã phục dịch thánh chúng lúc trước cảm thấy ân hận, xấu hổ, biết lỗi của mình nên từ đó phát nguyện: “Mấy trăm người chúng ta đây, lúc trước đã tạo khẩu nghiệp, bây giờ biết sám hối sửa lỗi, từ bây giờ trở đi nguyện làm nhiều việc thiện, phụng sự người khác, cầu mong kiếp tới gặp được thánh hiền, tu hành giải thoát.”

“Thái tử Kỳ Đà! Mấy trăm người làm công ấy, vì đã tạo khẩu nghiệp nên kiếp này phải chịu cái khổ sinh ra làm ăn mày. Nhưng nhờ biết hối lỗi, nên nửa quãng đời còn lại họ đã được gặp Phật. Trưởng giả Tán Đàn Ninh chính là ta trong kiếp trước. Nhờ những nhân duyên như thế nên kiếp này họ mới được độ”.

Đức Phật nói xong, thái tử Kỳ Đà và những người cùng nghe đều hoan hỉ không kể xiết, tất cả đều phát tâm chuyên cần tu hành, sám hối tội lỗi, cầu được vô thượng Bồ Đề.

Xem thêm câu chuyện hay chưa kể về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại đây.

Lòng nhân ái là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất. Nếu cuộc sống không có yêu thương thì mối liên kết sẽ vô cùng lỏng lẻo, có thể đứt gãy bất kì lúc nào. Và sẽ thật là một thảm họa nếu như thế giới ở trong tình trạng ấy. Hãy yêu thương và đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống như những gì Đức Phật đã dạy chúng sinh.

 

 

 

Bài liên quan

Phản hồi

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tử vi ứng dụng